Category Archives: Kỳ bí

Viên đá hình mặt người ở Hà Tĩnh

Viên đá kỳ lạ của ông Tĩnh.

Hình dạng viên đá giống một thủ cốc của con người, trên có khắc 4 chữ Nho mà theo ông Tĩnh tạm dịch là: Đại Vương Chính Hồ. 

 

Viên đá có hình tròn dẹt, đường kính 7,2cm, ở giữa dày 3cm, mỏng dần ra xung quanh. Phía trên 2 vệt trắng tương đối cân đối về 2 bên giống như khuôn mặt người có 2 vành tai, ở phía sau gần giữa có 1 chấm trắng còn vân đá gần giống như hình vẽ âm dương trong ngũ hành bát quái. 

 

Được biết viên đá kỳ lạ này có nguồn gốc từ núi Thiên Cầm, nơi có đền thờ Vua Hồ, thuộc xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh). Hiện vẫn chưa xác định được 4 chữ Đại Vương Chính Hồ trên viên đá là do ai khắc, khắc vào thời gian nào.

 

Mong muốn của ông Tĩnh là các nhà khoa học lịch sử và khảo cổ dùng phương pháp tự dạng để xác định niên đại và tác giả của 4 chữ Nho trên viên đá. Biết đâu đó sẽ là một đồ vật quý cho Bảo tàng Nghệ An và cho con cháu họ Hồ nói riêng.  

 

Được biết ông Tĩnh là người duy nhất ở Nghệ An sưu tập đồ cổ. 

 

Thảo Nguyên/Dân Trí

Bí ẩn Nguyễn Phúc Giác Hải

Đăng ký kiếm tiền với Agloco

Ông là nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực tìm hiểu những điều kỳ lạ của con người. Đam mê nghiên cứu, ông sẵn sàng rũ bỏ tất cả để theo đuổi đề tài cuốn hút mình.

Soạn: AM 687717 g�i đến 996 để nh�n ảnh này
Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải.

Gặp Nguyễn Phúc Giác Hải một lần người ta không thể nào quên. Trán hói, cao và rộng, ánh mắt có thần. Nhưng ấn tượng hơn là niềm hăng say và giọng nói cuốn hút người nghe.


Nguyễn Phúc Giác Hải sinh năm Giáp Tuất, 1934 vào giờ Chính Ngọ. Nhà tử vi học nổi tiếng thời đó là Phạm ứng Long (tục gọi là Nhì Lùng người Hoa) chính tay lập lá số tử vi cho cậu bé. Cứ theo tử vi mà xét, cậu bé này lắm tài, nhưng bị tuần triệt vào cả hai cung quan và điền. Nhưng còn may ở chỗ “tuần triệt đắc địa”.


Đi học say mê môn vật lý và có ý định theo học ngành này. Ngay khi đang là học sinh đã sáng tác truyện thám hiểm Tây Nguyên. Tưởng tượng ra cuộc chiến sinh tử giữa Voi và Sư tử. Truyện được in. Người bố của bạn đọc và khen, nhưng lại chê… vì Tây Nguyên làm gì có …sư tử. Ông nhớ lại, lúc ấy mình rất xấu hổ, quyết tâm lao vào học sinh vật. Bởi thế thi vào Đại học khoa học ngành Lý – Hoá – Vạn, sau đó chuyển sang lớp sinh học Đại học Sư phạm. Dạy sinh học tại Trường Bổ túc công nông trung ương, từng dạy Thủ tướng Phan Văn Khải, nhưng lại tham gia vào tổ tuyên truyền về du hành vũ trụ của GS Tạ Quang Bửu.

 

Rời bục giảng ông về Uỷ ban Khoa học Nhà nước nghiên cứu về di truyền học, một lĩnh vực mới mẻ , chưa được quan tâm ở nước ta. Năm 1965, trong khi sinh học thời đó còn bị chi phối bởi quan điểm Lưxencô, Nguyễn Phúc Giác Hải đã viết bài bênh vực học thuyết di truyền của Menđen nhân 100 năm học thuyết này ra đời. Rồi năm 1966 ông đề xuất việc thành lập Hội di truyền học Việt Nam, và ông đóng vai trò như tổng thư ký hội đầu tiên.


Những khả năng chữa bệnh kỳ lạ của cụ Trưởng Cần thu hút sự chú ý đặc biệt của ông. Vào thời ấy, chưa thể đặt ra vấn đề nghiên cứu những hiện tượng “phi khoa học” như thế được. Ông bèn lẳng lặng tiến hành tìm hiểu. Tình cờ một quan chức cao cấp nhờ ông đưa đến chữa bệnh có hiệu quả. Vị quan chức này ký giấy cho phép ông tiến hành nghiên cứu. Nguyễn Phúc Giác Hải đưa ra khái niệm và thuật ngữ “Trường sinh học” đầu tiên trong giới khoa học. Công việc tiến triển thuận lợi và đến ngày 30- 4- 1974 thì tổ chức quay phim tư liệu. Đùng một cái ngày 19-5 trên báo Hà Nội mới đăng thông báo của Sở Y tế Hà Nội cấm cụ Trưởng Cần hành nghề “mê tín”. Đồng loạt nhiều tờ báo nhảy vào đánh hội đồng. Có một tờ báo đăng bài Lão phù thuỷ và “nhà khoa học”, hàm ý nhà nghiên cứu là một nhà khoa học gà mờ. Bên cạnh đó là sức ép từ nhiều phía, khiến cho GS Hoàng Phương, người cộng tác cùng ông rút lui. Và vị quan chức cao cấp quay lưng lại 180o. Bị đưa ra hội đồng kỷ luật, nếu như ông tự nhận khuyết điểm thì sẽ chỉ bị xử lý phê bình. Nhưng ông khẳng định mình không vi phạm kỷ luật, không vi phạm pháp luật, nên đến giữa năm 1976 người ta buộc ông thôi việc, chỉ cho hưởng một tháng lương.


Ông bảo trong hoạ có phúc. Vì ra khỏi những công việc nghiên cứu trong khuôn khổ cứng nhắc, ông có điều kiện tự do nghiên cứu những gì trực giác mách bảo là có ý nghĩa quan trọng. Mãi đến 14 năm sau, do kiên trì khiếu nại ông mới được trở lại công tác tại Viện Khoa học Việt Nam và chính thức được giao nghiên cứu những khả năng tiềm ẩn của con người theo đúng nguyện vọng của mình.

Tiên tri như một đề tài khoa học
Tuy nhiên việc cơm áo thời bao cấp không phải chuyện đùa. May có người học trò cũ nhờ ông dạy ôn thi đại học môn sinh cho một nhóm con em. Nhưng ông chỉ nhận dạy một lớp đủ sống mà nghiên cứu. Ngày ngày ông miệt mài đến thư viện đọc sách. Sau ngày giải phóng ông có dịp vào TP Hồ Chí Minh sục tìm trong các thư viện các loại sách có liên quan mà ở miền Bắc không có. Một số sách của ông được tái bản, có tiền nhuận bút, ông dành tất cả để mua sách, đặc biệt mua được hai bộ Kinh Dịch của Ngô Tất Tố và của Phan Bội Châu. Từ đó ông bước vào nghiên cứu Kinh Dịch và ngộ ra rất nhiều điều.


Soạn: AM 687719 g�i đến 996 để nh�n ảnh này
Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải trước tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm tại quê hương Trạng.

Khi viết bài tóm tắt lịch pháp và đối chiếu với những trùng hợp ngẫu nhiên trong đời tư của mình, ông nhận ra trong tự nhiên có những chu kỳ bí ẩn. Thế là với niềm say mê vật lý từ ngày còn trẻ, ông say sưa tìm hiểu để giải mã những hằng số vũ trụ. Nguyễn Phúc Giác Hải công bố một loạt bài về mã số vũ trụ và ông tham gia vận động thành lập Hội Thiên văn học Việt Nam và cho đến nay ông vẫn là một thành viên trong ban chấp hành Hội.


Sau khi về hưu, ông vẫn tiếp tục công việc của mình trên cương vị chủ nhiệm bộ môn Dự báo trong Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà lý học nổi tiếng thế kỷ 15-16 của nước ta, Nguyễn Phúc Giác Hải đã đưa ra một số lý giải thú vị về Sấm ký của Trạng Trình. Chẳng hạn những đoạn sấm viết về sự ra đời của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh, sự bùng nổ của Cách mạng Tháng 8- 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hồ Chủ tịch về tiếp quản Thủ đô.


Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra cách đây vừa hơn 500 năm và mất cách đây 420 năm. Lời sấm ứng với thời đại của chúng ta ngày nay là:


Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diên trường ức vạn xuân.
(Đất nước Hồng Lam này 500 năm sau sẽ là thời kỳ hưng thịnh ức vạn xuân).


Cũng trong khi nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm ông giật mình gặp trong đó có hai chữ Việt Nam. Thì ra quốc hiệu Việt Nam không phải mãi đến năm 1804 thời nhà Nguyễn mới đặt ra. Thông báo này của ông đã gây bất ngờ cho những nhà sử học “chính thống”. Vấn đề này thôi thúc ông đi đến cùng sự thật. Ông tự bỏ tiền túi lặn lội đi bất cứ nơi nào được mách bảo có bia ký đề hai chữ Việt Nam. Đích thân ông đã tập hợp được 4 tấm bia như vậy. Trong đó tấm bia năm 1670 ở Đồng Đăng có khắc rõ câu: “Đây là cửa ngõ yết hầu Việt Nam trấn giữ ải quan phương Bắc”( dịch nghĩa). Đến nay cộng thêm 7 tấm bia của Viện Hán Nôm tìm thấy đã có 11 tấm bia có chữ Việt Nam. Trong các văn bản, cũng đã tìm thấy Ngô Thì Nhậm từng ghi danh: Việt Nam hậu học Y Doãn Ngô Thì Nhậm. Còn Ngô Thì Vị khi đi sứ Trung Quốc cũng đã đề thơ trên lầu Hoàng Hạc có câu: Việt Nam sứ giả Ngô Thì Vị.


Nhưng ông vẫn muốn tìm cho được một tấm bản đồ đầu tiên có tên Việt Nam. Thì mới đây được biết ở Thư viện Hoàng gia Anh quốc có một tấm bản đồ như vậy, ông đã lặn lội sang tận London. Và quả “trời chẳng phụ lòng”, ông được nhìn tận mắt, sờ tận tay tấm bản đồ viết bằng chữ Hán cổ với bốn màu mực: Việt Nam địa dư đồ của Sa Khâu Từ Diên Húc (người Trung Quốc) vẽ vào năm 1870, có lời thuyết minh Việt Nam quốc toàn đồ thuật lược.


Theo quy định ở đây tuyệt đối không được phôtô, chụp ảnh tài liệu, nhưng ông đã thuyết phục được cho chụp và in vào đĩa CD. Chiếc đĩa này đang trên đường gửi về, cho đến lúc này ông chưa nhận được. Chắc chắn sau khi nhận được tài liệu ông sẽ cho công bố tấm bản đồ quý báu đó.


Giải thích vì sao ông quan tâm đặc biệt đến vấn đề dự báo và tiên tri, ông cho biết: “Đây là một vấn đề bí ẩn lớn nhất của khoa học. Vì sao một nhà ngoại cảm, không dựa vào những quan trắc nào lại có thể biết trước mọi điều sẽ xảy ra trong tương lai. Phải chăng trong vũ trụ đã có chứa một trường thông tin về vấn đề đó? Hiểu biết về vấn đề đó cũng chính là hiểu biết về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ”.

  • Nhữ Nguyên (KH&ĐS Xuân 2006)

Tìm hài cốt bằng phương pháp ngoại cảm

Tới nay, đã có gần 7 nghìn bộ hài cốt được các nhà ngoại cảm thuộc Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người tìm thấy, cùng với ít nhất 4 đề tài khoa học trong lĩnh vực này. Việc tìm hài cốt này có thể được giải thích bằng cơ sở khoa học.

Năm 1993, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng của Trung tâm tham gia phát hiện hài cốt 13 liệt sĩ ở Non Nước. Nhưng khả năng này của cô được phát hiện từ lâu trước đó. Đó là một lần giỗ bà nội, cô nhìn lên bàn thờ thấy bà ngồi cùng hai đứa bé. Hằng hoảng sợ hỏi ông nội: “Hai cậu bé ngồi cùng bà nội kia là ai?”. Ông nội ngạc nhiên giải thích: “Con đầu của ông bà được hơn 1 tuổi thì chết, đến người con thứ 3 được hơn 2 tuổi cũng chết”.

Rồi đến lần đi trên bờ ruộng giữa 2 bên mênh mông nước, Hằng nhìn thấy có những bộ xương người bên dưới. Những chuyện “nhìn thấy” như vậy cứ lặp lại, và chuyện Hằng có khả năng tìm mộ cũng bắt đầu từ đấy. Có điều – như Hằng cho biết – mọi chuyện “kỳ lạ” ở Hằng chỉ diễn ra sau lần cận kề cái chết do bị chó dại cắn…

Bẵng đi nhiều năm, cuối năm 2004, tin Hằng tìm và xác định được danh tính 3 liệt sĩ là những chiến sĩ cảm tử thuộc trung đoàn Bảo vệ Thủ đô trong khuôn viên Trường THCS Trưng Vương (HN) đã khiến nhiều người cảm kích. Chuyện kỳ lạ về những người đi tìm mộ lại được nói đến ngày một nhiều.

Tìm hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính trên mộ liệt sĩ vô danh là công việc vô cùng khó khăn. Điều kiện tiên quyết để tìm thấy mộ là phải có một người thân đồng huyết thống. Bích Hằng cần có ảnh liệt sĩ để giao tiếp với liệt sĩ qua ảnh (sau đó ra thực địa để xác định nơi có hài cốt). Nhà ngoại cảm Dương Mạnh Hùng sử dụng phương pháp bắt mạch thái tố để biết quá khứ, hiện tại và tương lai của thân nhân liệt sĩ, trong đó có xác định mộ liệt sĩ. Nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bẩy thì quan sát ấn trường của thân nhân liệt sĩ để vẽ sơ đồ mộ chí, đường đi tới mộ và ra thực địa để xác định vị trí mộ.

Việc tìm mộ đã khó, nhưng tìm thân nhân cho liệt sĩ (mộ vô danh) còn khó hơn nhiều bởi các nhà ngoại cảm phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để “giao tiếp” với “vong” người nằm dưới mộ nhằm lấy đủ các thông tin: Tên liệt sĩ, quê quán, tên những người thân còn có thể tìm kiếm được… Đây là những thông tin của người đã khuất chỉ dẫn đi tìm người sống.

Trong năm 2004, nhóm các nhà ngoại cảm thuộc Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người đã tiến hành tìm kiếm hàng trăm trường hợp liệt sĩ vô danh, có nhiều trường hợp rất đáng chú ý. Theo một ghi chép của Trung tâm, tại nghĩa trang liệt sĩ Mường Thanh, các nhà ngoại cảm Dương Mạnh Hùng, Phan Thị Bích Hằng và Nguyễn Khắc Bẩy đã “giao tiếp” được với 30 liệt sĩ.

Liệt sĩ Trần Văn Chính “cho biết” quê ông ở xã Phú Hộ, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ, là dân công đi phục vụ ở Điện Biên Phủ. Các nhà ngoại cảm cho biết được liệt sĩ Chính nhờ nhắn cho bạn là Trần Thọ Vệ, đã từng học lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 4, hiện còn sống ở xã Phú Hộ. Ngày 11/9/2004, các nhà nghiên cứu thuộc bộ môn Cận Tâm lý của Trung tâm đã tìm được ông Trần Thọ Vệ ở xã Phú Hộ. Ông Trần Thọ Vệ đưa các nhà nghiên cứu đến gia đình liệt sĩ Trần Văn Chính.

Còn liệt sĩ Trần Văn Thanh, sau khi “kể” chuyện ông được đồng đội gọi là “Thanh con” vì trẻ tuổi và nhỏ người, còn gửi lời hỏi thăm chỉ huy Trương Tích Phong ở Lệ Mật, Gia Lâm, Hà Nội và nói rõ: “Tôi là người mang thủ trưởng Phong ra khỏi hầm bị sập ở chân đồi A1. Thủ trưởng Phong cũng tốt nghiệp lục quân Trần Quốc Tuấn khóa 4″. Những thông tin này về sau đã được ông Trương Tích Phong xác nhận.

Cuối tháng 10/2004, Phan Thị Bích Hằng cùng một số thành viên bộ môn Cận Tâm lý đã trực tiếp tiến hành khai quật tìm 3 liệt sĩ có tên là Phan Hào, Nguyễn Văn Dư và Nguyễn Văn Đẳng. Các cựu chiến binh (đa số là cán bộ cao cấp của tiểu đoàn 77 hiện còn sống) đã xác nhận đồng chí Phan Hào là trung đội trưởng, Nguyễn Văn Dư là chính trị viên, Nguyễn Văn Đảng là chiến sĩ trung đội 1, đại đội 1, tiểu đoàn 77, hy sinh ngày 21/12/1946 trong trận đánh bảo vệ Bộ Quốc phòng (khi đó đặt tại trường Trưng Vương, 26 Hàng Bài, HN). Có một chi tiết khá đặc biệt: “Vong” liệt sĩ cho biết đồng chí Dư hy sinh khi bị mất đầu, anh em lấy một cái bát úp vào cổ. Khi khai quật, những người tìm kiếm đã tìm thấy cái bát bộ đội dùng thời đó. Hài cốt liệt sĩ Phan Hào đã được cháu ruột là Phan Bích Hạnh tới nhận.

Theo tiến sĩ Nguyễn Chu Phác, xem xét dưới góc độ khoa học hiện đại, việc “thấy” của các nhà nghiên cứu gọi là “thiên nhãn thông” – một trong 10 lợi ích của thiền định. Trường hợp Bích Hằng tìm mộ cụ Lương Ngọc Quyến mất năm 1917 ở đồi Vô Tranh, Phú Lương (Thái Nguyên), nhiều chi tiết nói về địa hình… trước khi gia đình đi thực địa đều đúng. Cũng có khi nhà ngoại cảm “thấy” được “vong” xuất hiện rõ là nam hay nữ, người già hay trẻ em, thậm chí thấy trên mặt có nốt ruồi hay sẹo ở đâu, khi hy sinh bị đạn vào chỗ nào…

Quan trọng nhất vẫn là đặc điểm về hài cốt hoặc vật chôn theo. Nhà ngoại cảm Nguyễn Khắc Bẩy đã nói trước khi gia đình bà Trần Thị Bảo và ông Trương Ngọc Thuận đi tìm mộ bố là 11 giờ sẽ có một cô gái răng vẩu ra chỉ mộ, khi đào lên hài cốt có chôn theo mấy đồng tiền cũ và mọi việc đã diễn ra đúng như vậy.

Để “thấy”, nhà ngoại cảm phải nhắm mắt lại và hình ảnh cần “thấy” sẽ hiện lên trong đầu. Giáo sư Nguyễn Ngọc Kha giải thích cơ sở của hiện tượng này là “tổ chức lưới” đặc biệt dưới vỏ não đã tạo ra “trực giác xuất thần”. Ở một số người mà hệ thần kinh chịu những sang chấn đặc biệt như chết lâm sàng, điện giật, đau quá nặng… những sang chấn đó được hoạt hóa vùng dưới vỏ, tương tác mạnh với vỏ não và xuất hiện ra ngoài các khả năng đặc biệt.

ST

Phát hiện di hài của 1 tiên nữ

Tiên nữ – nhân vật tưởng chừng chỉ tồn tại trong truyền thuyết – nay đã được khẳng định là có thật bằng những chứng cứ xác thực đầu tiên. Một người đàn ông (xin được giấu tên) ở Derbyshire đã phát hiện di hài huyền thoại trên con đường cổ xưa từ thời La mã, nằm giữa hai làng Duffield and Belper.

“Hôm đó như thường lệ, tôi dắt chó đi dạo qua khu mộ cổ Iron Age thì bất chợt con vật cưng cất tiếng sủa và tỏ thái độ khác thường. Nó cứ quay đầu về phía ngôi mộ mà sủa và nhất định không chịu rời bước, bất chấp tôi có lôi kéo thế nào. Thật là điều bất thường vì hàng ngày chúng tôi vẫn đi qua đây, mà nó có bao giờ hành xử khác lạ như thế. Tò mò, tôi tiến lại gần khu mộ…

Đập vào mắt tôi là cảnh tượng ngỡ như trong truyện cổ: một mô đất sạt xuống, mở ra một đường hầm đen ngòm rộng chừng nửa mét. Chắc chắn là trước đây, tôi chưa nhìn thấy hầm tối này bao giờ. Tôi quỳ gối xuống để quan sát rõ hơn, cảm nhận rõ làn gió hun hút lạnh buốt phả vào mặt – chứng tỏ, hầm rất sâu.


Tôi bấm đèn pin ở chìa khóa xe và căng mắt nhìn cho rõ. Chính lúc ấy, vật thể lọt vào tầm quan sát làm tôi giật nảy mình: cách tôi chưa đầy 3 bước chân, một thi hài nhỏ xíu còng queo nằm trơ trọi trên đất. Phản xạ đầu tiên, tôi toan chạy đi báo cảnh sát – rất có thể đó là một đứa bé chết non. Nhưng khoan, thi hài này nhỏ hơn nhiều so với 1 đứa bé sơ sinh, và quan trọng hơn cả, sau lưng nó còn một đôi cánh tiên mỏng dính. Tôi dùng que khều nó lên, như vẫn không tin nổi vào mắt mình rồi bỏ vào cái túi nylong (định để dành đựng phân chó)”.

Không do dự, người đàn ông rút điện thoại gọi cho vợ. Hai vợ chồng thận trọng đặt xác “tiên nữ” vào trong 1 hộp thiếc đựng bánh, sau đó giấu trong ga-ra ôtô. Ngày hôm sau, cảnh sát ngay sau khi được thông báo đã tới đem thi hài đi giám định và phân tích.


Không chỉ một xác tiên

“Là một trong số ít những chuyên gia hiện tượng kỳ bí ở Derbyshire, tôi không bất ngờ khi cảnh sát viếng thăm nhờ giám định một thi thể lạ lùng – mặc dù lúc đó sự việc vẫn còn giấu kín nhằm tránh những rùm beng từ phía phương tiện truyền thông đại chúng.

Đích thân người đàn ông phát hiện ra khu mộ bí ẩn đã dẫn tôi trở lại nơi tìm ra thi hài. Thật bất ngờ, càng tìm kiếm chúng tôi càng phát hiện ra nhiều xác tiên nữ – tất thảy trên 2 chục xác với các mức độ khô cứng khác nhau. Không hiểu bằng cách nào mà chúng được bảo quản nguyên vẹn một cách đáng ngạc nhiên, tới mức có thể thấy rõ cả những chiếc móng tay và lông mi bé xíu. Kỳ lạ hơn nữa khi một lần tình cờ, tôi chợt nhận ra dường như có bàn tay ai đó đang cố gắng lấp lại đường hầm bí hiểm”.

Những bức chụp X-quang tiết lộ những điều vô cùng thú vị: về cấu tạo sinh học, di hài tiên nữ chẳng khác gì bộ xương của một bào thai vừa mới thành hình, tuy nhiên, những đốt xương rỗng tuếch khiến trọng lượng cơ thể chúng nhẹ nhàng hơn nhiều. Đáng ngạc nhiên, “tiên nữ” cũng có rốn – điều này cho thấy những sinh vật này cũng duy trì nòi giống theo cách của con người, mặc dù chúng không có bộ phận sinh dục hoàn chỉnh.

Không dám khẳng định chính xác những xác khô này đã tồn tại bao lâu, nhưng mức độ ướp khô cho thất chúng ít nhất phải trên 400 năm tuổi.

Nhưng do đâu mà những sinh vật kỳ bí này luôn bị coi chỉ là nhân vật hoang đường trong truyền thuyết. Các chuyên gia sinh vật bí hiểm cho rằng, khả năng hòa trộn với môi trường quá tốt đã giúp chúng lọt khỏi tầm mắt con người cho đến tận ngày nay. Sắc tố đặc biệt trên cánh và da khiến chúng như “tan” vào những tán lá xanh cao chót vót – nơi chúng cư ngụ thường xuyên và hầu như không bao giờ mạo hiểm sà xuống dưới đất. Vào mùa đông lạnh giá, chúng rút lui vào hang động sâu trong lòng đất.


Những di hài phát hiện ở Derbyshire là bằng chứng hiển hiện rằng, truyền thuyết không hoàn toàn là những điều tưởng tượng.

Hải Minh

Theo Lebanoncircle

(Theo Dân Trí)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 35 other followers