Category Archives: Kinh tởm

Những người quái dị nhất

no
Dưới đây là một số ảnh chụp những người nổi tiếng kỳ lạ và quái dị nhất từ một cuộc triển lãm ảnh ở Bảo tàng Lịch sử St. Petersburg.

Xem tiếp…

10 người phụ nữ tàn ác nhất lịch sử

Phần 1

Elizabeth Báthory, nữ bá tước vùng Trasylvania, Hungari ở thế kỷ 16, người làm cả thế giới phải kinh sợ với “kỳ tích” đã được ghi vào sách kỷ lục Guiness là người phụ nữ giết nhiều người nhất thế giới.

Xem tiếp…

Thực đơn dựng tóc gáy

Côn trùng đang là món ăn thịnh hành ở châu Á. Chuột, gián, cào cào, châu chấu, sâu bọ, rắn, kiến…hiện được xem như những đặc sản của các nhà hàng ở Bắc Kinh (Trung Quốc) và Bangkok (Thái Lan).

Khu ẩm thực côn trùng luôn thu hút khách du lịch. Rất nhiều người cho rằng, “côn trùng là một món ăn giàu protein”.

Bạn có thể xem thực đơn, những món canh, chiên, nướng, súp côn trùng cũng vô cùng phong phú và hấp dẫn. Khuyến cáo: nếu bạn yếu tim thì không nên vào những nhà hàng kiểu này.

Xem tiếp…

Người đàn ông “không mặt”

Cuối cùng thì người đàn ông với những khối u khủng khiếp trên mặt đã đồng ý để các bác sỹ trả lại cho anh khuôn mặt điển trai ngày nào.

Nhìn Jose Mestre (Lisbon, Bồ Đào Nha) người ta không thể nào nhận ra anh vì khuôn mặt đã có rất nhiều biến dạng. Những khối u trên mặt lớn dần lên che mất những bộ phận trên mặt như mắt, mũi, miệng.

Lúc mới sinh, Jose có một dị tật nhỏ trên môi. Theo thời gian, những khối u phát triển, giờ nó chiếm 33 cm chiều dài, nặng tới 3 kg.
Nguyên nhân do những mạch máu mở rộng và gây nên một vùng đỏ trên da mặt. Anh không thể thực hiện phẫu thuật vì lý do tôn giáo không cho phép truyền máu của người khác.

Xem tiếp … 

Búp bê có mái tóc người chết

Học tiếng Anh online
Learn English with Video
Thủ thuật cho Blogger

 

Có lẽ chẳng cần giới thiệu bạn sẽ đoán ra ngay xuất xứ của những con búp bê ma quái: chỉ có thể là từ Nhật Bản mà thôi.

 

 

 

 

HM

Theo QQ

Đức: Bỏ con chết đói để đi tìm tình yêu trên mạng

Một người mẹ trẻ 20 tuổi đã bỏ quên 2 đứa con nhỏ của mình suốt 4 ngày trong một căn hộ để đi tìm… tình yêu qua mạng. Hậu quả, cậu con trai mới 10 tháng tuổi bị chết đói, còn cô con gái 2 tuổi trong tình trạng ngắc ngoải. Vụ việc vừa xảy ra tại TP Chemnitz, Đức.

Người mẹ trẻ Conny N., 20 tuổi (Bild).

Trên một trang Web người ta thấy có đăng tải nội dung sau: “Conny N., 20 tuổi, thích xem phim, khiêu vũ và đi dạo, có một con gái 2 tuổi tên là Lena Isabell”. Không một chữ nào đề cập tới cậu con trai 10 tháng tuổi Leon và chỉ 3 tuần sau thì người ta đã phát hiện ra xác của đứa trẻ tội nghiệp này, Leon bị chết đói ngay trong căn hộ của người mẹ đốn mạt.

Trước đó, Conny N. đã từng tung lên mạng rằng: “Con tôi là quan trọng nhất”. Và đối với người trong mơ, Conny N. còn yêu cầu: “Đó là người phải biết yêu thương tôi và con tôi. Sau khi ly hôn, tôi cũng đã có một mối tình nhưng người đàn ông đó đã không dành tình cảm cho con của tôi. Tôi muốn nói với những ai có ý định tìm hiểu, đặt vấn đề với tôi rằng, con tôi là quan trọng bậc nhất”.

Người mẹ trẻ thất nghiệp này đã bỏ mặc hai đứa con đẻ của mình là Lena và Leon trong căn hộ. Những đứa trẻ đã phải vật lộn với cơn đói và khát 4 ngày liền trong lúc mẹ của chúng đang hú hí với bạn trai. Thật may, người em gái của Conny N. đã tình cờ phát hiện ra và ngay lập tức gọi điện cho cảnh sát.

Một người bạn gái của Conny N. phỏng đoán như sau: “Có lẽ cô ta đã sợ rằng, nếu nói có 2 con nhỏ thì sẽ không có người đàn ông nào dám làm quen”. Một phụ nữ 39 tuổi có tên là Gwendolyne Kapinski đã nói trong cơn xúc động: “Cô ta đã nhẫn tâm chối bỏ đứa con thứ hai của mình”.

Hiện tại người đàn bà “giết con” này đang ngồi trong buồng tạm giam của thành phố Chemnitz – Đức. Nữ công tố viên Anette Schmitt cho biết: “Chúng tôi đang tìm kiếm những nguyên nhân để làm sáng tỏ vụ việc xung quanh cái chết của bé Leon”.

Người ta đang điều tra xem liệu đây có phải là một vụ giết người không? Còn theo Giáo sư Felix Zintl, Giám đốc bệnh viện nhi thành phố Jena thì cho rằng, Leon đã chết bởi sự mù quáng của chính người mẹ.

Giáo sư Felix Zintl cho biết thêm: “Một đứa trẻ ở độ tuổi của Leon cần mỗi ngày tối thiểu là 1 lít thức ăn dạng lỏng. Sự chết do đói và khát đối với một đứa trẻ sơ sinh là rất khủng khiếp”.

Hiện tại các bác sĩ của bệnh viện đang tích cực chăm sóc cho bé Lena. Cũng theo Giáo sư Felix Zintl cho hay thì: “Rất may là bé gái đã được cấp cứu sớm vài giờ, bé Lena chỉ có thể chịu khát tối đa từ 1 đến 2 ngày nữa là cùng”.

Lê Quân (Theo Bild)/Tiền Phong



Sometimes Free is too Expensive...

 Kiếm thu nhập với VnAgloco.spaces.live.com
Video Anh ngữ, tin học..Giang Day Truc Tuyen

5 thảm kịch kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại


Vụ nổ kinh thiên động địa trên đảo Krakatoa năm 1883.

1. “Vụ nổ Big Bang” trên đảo Krakatoa (năm 1883)

Vụ nổ long trời lở đất đã thổi bay tro bụi khắp không trung trong bán kính hơn 27 km. Âm thanh của nó đủ khiến cho người dân đảo Rodriguez – cách đó hơn 4.800 cây số – cũng phải giật mình. Áp suất nó gây ra làm tất cả phong vũ biểu ở Luân Đôn giật cao lên gấp 7 lần. Cả thế giới rung chuyển đến vài phút.

Hình minh họa đảo Krakatoa hồi thế kỷ 19

 

Chưa hết, vụ nổ làm dấy lên con sóng thần cao trên 30 mét đổ về 2 hòn đảo Java và Sumatra. Tàu bè bị hất phăng vào sâu trong đất liền, mắc kẹt giữa rừng rậm. Ngay cả thủy triều ở tận New York cũng bị dâng lên vài phân. 36.000 người đã bỏ mạng sau cơn triều cường khủng khiếp đó. Bản thân đảo Krakatoa thì bị đẩy chìm xuống lòng đại dương, nhiều năm sau nhờ một vụ núi lửa phun khác mới nổi lên trở lại.

2. Bệnh dịch “Cái chết đen” ở châu Âu (1347 – 1351)

Xuất phát từ một thuyền buôn trên Biển Đen “cập bến” thành phố Messina (đảo Sicily), lúc đầu người ta cứ ngỡ đó là bệnh truyền nhiễm từ gia cầm gia súc gì đó – kiểu như bò điên hay cúm gà. Nhưng thực chất, chính bọ chét mới là thủ phạm truyền bệnh từ chuột sang người.

Hình minh họa dịch bệnh “Cái chết đen” trong
cuốn kinh Toggenburg (1411)

 

Tên gọi “Cái chết đen” được gắn cho bệnh dịch là bởi, thay vì những nốt sưng bạch hạch, khắp người bệnh nhân nổi lên đốm đem. Quái ác hơn, nó là sự tổng hợp của 4 dạng dịch bệnh chết người: dịch hạch, sốt thương hàn, nhiễn trùng máu và viêm phổi.

Dịch lan với tốc độ kinh hoàng. Buổi trưa phát ban là có thể tử vong ngay trong chiều tối. Ước tính 12 triệu người ở châu Á và 25 triệu người ở châu Âu (một phần ba dân số châu Âu) đã bỏ mạng.

3. Vụ nổ Tunguska ở Nga (năm 1908)

7 giờ 17 phút ngày 30/6/1908, vụ nổ mang sức nặng 15 triệu tấn (gấp hơn 1.000 lần quả bom nguyên tử ở Hiroshima) đã san bằng 1 vùng rộng lớn có bán kính gần 92 km thuộc khu vực Tunguska, Serbia. Những khung cửa kính cách đó 650 km cũng vỡ vụn vì rung chuyển.

Cánh rừng vẫn chết 20 năm sau vụ nổ Tungusta

 

Hai chục năm sau, năm 1927, người ta mới thực sự bắt tay vào điều tra nguyên nhân vụ nổ. Tuy nhiên đó chưa phải là điều kỳ khôi nhất. Một thực tế khiến ai cũng thấy lạ lùng: nổ to làm vậy nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào của hiện tượng núi lửa phun, mà cũng không để lại vùng bình địa nào. Điều này chứng tỏ có vật thể lạ phát nổ trong không trung – mà theo các nhà khoa học rất có thể đó là 1 hành tinh nhỏ hay đuôi sao chổi sa xuống địa cầu.

Dù sao cũng phải cảm ơn là mảnh thiên thạch đã phát nổ trước khi chạm đất, bằng không, khó lường trước số phận Trái đất sẽ ra sao. Không một ai thiệt mạng trong vụ nổ kinh thiên động địa này.

4. Vỡ hồ Conemough, Mỹ (năm 1889)

Hồ Conemough nằm cách thị trấn Johnstown, bang Pennsylvania (Mỹ) một đoạn dài hơn 2 chục cây số. Ngày 31/5/1889, sau 2 ngày mưa thối đất thối cát, thảm họa ập xuống khi con đập giữ nước hồ không đủ sức chịu đựng, vỡ tung.

Hậu quả cơn đại hồng thủy để lại cho thị trấn
Johnstown năm 1889

 

Cột sóng cao 18 mét với tốc độ 64km/giờ ập xuống Johnstown, quét sạch toàn bộ thị trấn trong giây lát. Trớ trêu thay, Johnstown nằm xuôi bên dưới 1 nhà máy sản xuất dây cáp điện, vậy là đối phó chưa xong với cơn đại hồng thủy, những người dân bất hạnh đã bị phủ lên đầu hàng tấn dây điện có gai, chồng chéo lên nhau không làm sao mà thoát ra nổi. Tổng cộng, 2.209 người chết, trong đó bao gồm 99 đại gia đình.

5. Dịch cúm sau Chiến tranh thế giới lần I (1918-1919)

Thế giới chưa kịp hồi tỉnh sau cuộc Đại chiến lần thứ nhất thì đã lại bị kéo đại dịch cúm hoành hành trong năm 1918-1919. Xuất phát từ Trung Quốc nhưng bùng phát mạnh nhất ở Tây Ban Nha, vì thế bệnh dịch được gọi tắt bằng cái tên “cúm Tây Ban Nha”.

Bệnh nhân cúm nằm chật cứng bệnh viện
Funston, bang Kansas (Mỹ)

 

Một phần năm dân số thế giới đã nhiễm bệnh, con số tử vong ước chừng 40 triệu người – còn cao hơn cả số người chết trong 4 năm đại chiến. Ngay cả Woodrow Wilson – Tổng thống thứ 28 của Hoa Kỳ – cũng chết vì căn bệnh này sau khi trở về từ Hội nghị Hòa bình ở Versailles.

Đặng Thùy

Theo Mental Floss/Dân Trí

Sometimes Free is too Expensive...

Nạn đói năm 1945 (Kỳ cuối): Chống giặc đói

 

Lễ phát động Ngày cứu đói tại Nhà hát lớn Hà Nội

Một ngày sau khi ra mắt toàn thể quốc dân tại quảng trường Ba Đình, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên sáu vấn đề cấp bách nhất mà Chính phủ cần giải quyết ngay.

Trong sáu vấn đề đó, vấn đề số 1 là cứu đói: “Nhân dân ta đang đói… Những người thoát chết đói, nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống” (Hồ Chí Minh toàn tập).

Có hai giải pháp chống giặc đói.

Giải pháp cấp cứu: nhường cơm sẻ áo

Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”.

Ngay từ giữa tháng chín, Chính phủ đã tổ chức một lễ phát động phong trào cứu đói. Buổi lễ này được tổ chức long trọng tại Nhà hát lớn. Cụ Ngô Tử Hạ, người cao tuổi nhất trong Quốc hội, là chủ tịch buổi lễ, đã long trọng đọc lời kêu gọi toàn dân hãy nhường cơm sẻ áo, mỗi nhà bớt một chút gạo để cứu giúp những người đang đói. Chính cụ cầm càng một chiếc xe bò tượng trưng để đi các phố phường, nhân dân ai có chút gạo chút ngô đều mang ra đóng góp vào phong trào cứu đói.

Chính phủ còn phái một ủy ban vào Nam bộ điều tra và cấp tốc tổ chức việc vận chuyển gạo ra Bắc. Chính phủ cũng hô hào các hội buôn và tư nhân tham gia công việc vận chuyển này. Việc vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc chỉ thực hiện được trong tháng 9-1945, với tổng số không quá 30.000 tấn. Từ sau khi Pháp gây chiến ở Nam bộ, con đường vận chuyển bằng đường sắt bị khó khăn và không bao lâu sau thì tắc nghẽn.

Giải quyết vấn đề từ gốc: tăng gia sản xuất

Tăng gia sản xuất không chỉ là cơ sở để giải quyết triệt để nạn đói, mà còn là cơ sở cho toàn bộ chính sách kinh tế của Chính phủ Cách mạng VN. “Thực túc thì binh cường. Cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện tấc đất tấc vàng thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó. Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập” (Hồ Chí Minh toàn tập).

Để phục vụ tăng gia sản xuất, điều cấp bách trước mắt là phải hàn khẩu xong các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới. Việc này không thể chỉ dùng nhân lực mà còn cần có những chuyên gia. Nhà nước quyết định cho đấu thầu việc đắp đê. Chủ thầu phải là những chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Cụ Nguyễn Xiển, lúc đó là chủ tịch Ủy ban hành chính Bắc bộ, là người trực tiếp điều hành việc đắp đê, kể lại trong bài hồi ký về sự nghiệp đắp đê sau cách mạng: “Cách làm đó lại gặp những mắc mớ về quan điểm. Có người nói: “Làm cách mạng mà còn dùng thầu khoán? Thầu khoán là bóc lột nhân công”. Chính Bác Hồ, trong một chuyến đi thị sát đắp đê, đã giải đáp vấn đề này: “Thầu khoán đắp đê lúc này là yêu nước”. Câu trả lời trên đã giải tỏa được những vướng mắc”.

Cho đến đầu năm 1946, tức là chỉ bốn tháng sau cách mạng, công tác đê điều đã hoàn thành. Đó là một bằng chứng về trách nhiệm, năng lực và sức sống của chính quyền mới.

Cụ Ngô Tử Hạ, đại biểu Quốc hội (khóa I) cao tuổi nhất, đang kéo chiếc xe quyên góp và phân phối gạo trong Ngày cứu đói

Bà Ngô Thị Hoàn, nguyên trưởng phòng tổ chức Viện Kinh tế học, kể lại : “Lúc đó tôi mới 10 tuổi, trong đội nhi đồng, được đi theo chiếc xe của cụ Ngô Tử Hạ, đánh trống, phất cờ, hô khẩu hiệu để vận động đồng bào cứu đói.

Cụ Ngô Tử Hạ kéo chiếc xe qua phố Tràng Tiền. Nhà nào cũng có người chờ sẵn bên hè phố, người thì bơ gạo, người thì đấu ngô, người thì góp tiền.

Đi chưa hết một vòng bờ hồ thì xe gạo đã đầy.

Về đến Nhà hát lớn gặp Bác Hồ, cụ Ngô Tử Hạ chỉ cho Bác Hồ xem chiếc xe chở gạo lẫn lộn đủ các thứ: gạo đỏ, gạo trắng, gạo nếp, ngô, lại có nhà thêm mấy ống đỗ.

Bác Hồ nói: “Đấy mới là gạo đại đoàn kết. Nước ta có nhiều thứ gạo ngon, nhưng bây giờ thì đây là thứ gạo ngon nhất…”.

Đồng thời với việc đắp đê, phải gấp rút tiến hành trồng trọt, thực hiện khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng”. Chính quyền tất cả các địa phương quyết định cho phép sử dụng những đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt.

Chính quyền còn vận động cả tư nhân cho sử dụng tạm các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất. Mỗi địa phương lập ra một tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản xuất. Lương thực làm ra được dùng để cứu tế…

Ở Hà Nội, học sinh đã cuốc xới cả sân trường, vỉa hè, bất cứ nơi nào đất trống. Viên chức cuốc vườn trong công sở để trồng ngô, khoai… Thanh niên thủ đô chia thành những đội tăng gia đi trồng sắn ở bờ đê, bãi sông, lề đường.

Bộ trưởng Bộ Lao động lúc đó là Lê Văn Hiến kể lại: “Vào khoảng tháng 11-1945, tôi được Bác gọi sang giao nhiệm vụ mới là thay mặt Bác đi kinh lý các tỉnh phía Nam. Tôi đã báo cáo với Bác tình hình bộ trước khi đi. Bác nghe xong hỏi luôn: “Chú còn quên không báo cáo một chuyện nữa”.

Tôi ngớ người, vì trước khi gặp Bác tôi đã chuẩn bị rất đầy đủ những tài liệu về công việc của Bộ Lao động trong hai tháng qua. Chẳng lẽ mình còn thiếu sót gì?

Tôi nói: “Thưa Chủ tịch, còn chuyện gì nữa?”. Bác bảo: “Chú quên không nói về tình hình tăng gia sản xuất. Ở trước cửa bộ chú có một vườn rất rộng để không, dân thì đói, tại sao không cuốc lên trồng khoai trồng sắn để cứu đói. Trước khi đi công tác chú phải nhắc nhân viên làm việc đó”.

Trên đường trở về bộ, tôi thầm nghĩ: Bác quả là người thấu đáo, không quên một việc gì. Một việc nhỏ như thế, mình là bộ trưởng cũng không để ý tới, Bác ở tận xa mà Bác còn biết. Tôi liền triệu tập anh em trong bộ, nói ý kiến của Bác. Hôm sau mọi người đến sớm, người thì dao, người thì cuốc, thuổng, ào ào xới đất lên để trồng khoai…”.

Mặt trận quyết định nhất của tăng gia sản xuất cuối năm 1945 đầu 1946 là trồng màu. Lúa không còn kịp thời vụ nữa, phải dành phần lớn đất đai để tranh thủ trồng liên tiếp hai vụ màu bù cho phần thiếu hụt về lúa. Đây là giải pháp sáng suốt. Phải trồng màu ngay từ tháng 11-1945 để tháng giêng đã có thu hoạch khoai lang. Tháng hai đã có thu hoạch ngô, đậu.

Ngay sau đó, trồng tiếp một vụ nữa có thể cho thu hoạch bổ sung vào tháng ba và tháng tư để chịu đựng được suốt thời kỳ giáp hạt cho đến vụ thu hoạch lúa chiêm vào tháng năm.

Kết quả sản lượng màu đã tăng gấp bốn lần so với thời kỳ Pháp thuộc. Chỉ trong năm tháng từ tháng 11-1945 đến tháng 5-1946 đã đạt 614.000 tấn, qui ra thóc là 506.000 tấn, hoàn toàn có thể bù đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Bằng chứng rõ nhất là dân không đói, giá thóc gạo không tăng mà lại giảm. Giặc đói đã bị đánh lui.

* * *

Trong lễ kỷ niệm một năm độc lập, Quốc khánh 2-9-1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ”.

Trong hoàn cảnh nghiệt ngã lúc đó, lụt và hạn hoành hành, giặc ngoại xâm hoành hành, tiền và phương tiện gần như không có gì, giống má cạn kiệt, trâu bò chết gần hết…, mà đánh thắng được giặc đói, thắng một cách oanh liệt thì quả là một kỳ công. Kỳ công đó không thuộc riêng ai. Đó là sự nỗ lực của toàn dân. Nhưng không chỉ đơn giản là như vậy.

Cũng là toàn dân Việt Nam đấy mà năm trước đó thôi tại sao hàng triệu người vẫn chết đói? Còn phải kể đến một nhân tố vô cùng quan trọng nữa: nhờ có chính quyền cách mạng, nhờ tài tổ chức của chính quyền đó.

Đó là sự thật. Đó cũng là lý do giải thích tại sao tuyệt đại đa số dân chúng đã tin và đã theo Việt Minh.

GS ĐẶNG PHONG (Theo Tuoi Tre)

PS: Đừng để lịch sử lặp lại 

Nạn đói năm 1945 (Kỳ 5): Sống qua cơn đói

 

Những người đói cướp lại thóc gạo do Nhật chiếm, bị quân đội Nhật hành hung (1945) – Ảnh: Võ An Ninh

Gia đình ông bà tôi thuộc lớp trung lưu. Bà nội và mẹ tôi rất căn cơ, tiết kiệm. Thế mà không thoát đói. Sau này lớn lên tôi mới biết đó là cái đói Ất Dậu – cái đói mênh mông trùm khắp bao vùng miền, bao tỉnh huyện, không đâu và không ai thoát khỏi được.

Cái đói không của riêng ai

Tôi là cháu trai nên được bà rất chiều, còn mẹ – khỏi phải nói. Chợ về bao giờ cũng có quà. Quà phiên chợ đói mẹ đưa về cho chúng tôi lúc tấm mía gầy, lúc mấy củ khoai lang còi cọc. Mấy đứa em xúm quanh nhìn tôi bóc khoai, bóc cẩn thận cho thật hết vỏ.

Khoai được chia cho hai em phần lớn, còn tôi phần nhỏ hơn bởi tôi còn được tất cả phần vỏ còn lại, vun một nắm cho vào miệng nhai ngon lành. Vỏ khoai là thứ xưa nay không ai ăn vì nào có tiêu được, ăn vào bụng rồi trả lại cho đất mà thôi. Mấy anh em xúm quanh mấy củ khoai, trịnh trọng bóc và hăm hở nhai cả vỏ – đó là kỷ niệm về đói tôi không bao giờ quên.

Cả làng hiu hắt, vườn cổng đóng kín. Thế mà vẫn có người chui được vào nhà vì không còn chó. Người không có cái ăn thì chó cũng chết hết để làm cái ăn cho người. Người làm mướn cho ông bà tôi, một người đàn bà góa rất nghèo, đến thăm ông bà, ngồi ở góc nhà, mắt nhìn khắp trần nhà, dưới nhà. Không phải đến bây giờ mà ngay từ lúc ấy tôi đã thấy mắt của người đói rất đặc biệt.

Quan sát bà làm mướn và quan sát những người trong làng tha thẩn ngoài đường, ngoài ngõ tôi thấy họ thân hình thì khô quắt, chỉ còn da bọc xương, đi đứng không vững, cử động thì chậm chạp, nhưng mắt lại rất tinh. Cặp mắt săm soi nhìn khắp mặt đất và đảo khắp chung quanh để tìm.

Tìm một mầm xanh của cây lá để ngắt; tìm một cái gì còn động đậy để vồ lấy, bất kể đó là con chuột, con nhái, con cào cào, thậm chí là con kiến, con gián. Tôi nhớ lần ấy bà làm mướn có nói với mẹ tôi là gián ăn cũng được, và còn ngon là đằng khác. Người đói ăn được cả gián, đó là tri thức của tôi trong năm đói 1945.

Sau này xem phim Papillon – người tù khổ sai khi thấy Papillon nằm bẹp trên nền đất, tay quờ quạng, ráo riết bắt cho được một con gián dưới quầng sáng của ánh đèn phòng biệt giam, tôi lại nhớ đến câu chuyện mẹ tôi được nghe từ một người đói ngày ấy.

Rồi lại nhớ đến lần đón khách Cộng hòa dân chủ Đức, năm 1972, ở khách sạn Métropole, Hà Nội, khi thấy một con gián lấp ló ở góc phòng, ông bạn giáo sư Hans Kortum bỗng kinh hãi và đòi đổi phòng ngay. Bởi, với ông, gián là thứ insecte (côn trùng) kinh tởm nhất.

“Nghệ thuật làm no”

Đói quá phải ăn cả thịt chuột – Ảnh: Võ An Ninh

Cái năm Dậu ấy tôi được thấy, hoặc được nghe kể biết bao người trong làng đã cố níu lấy sự sống bằng tất cả những gì có thể ăn được. Thân và gốc cây chuối và cây đu đủ. Gốc củ ráy (ngứa vô cùng). Rau má và tất cả các loại rau dại mọc ở rìa làng. Kể cả cây choóc – ngứa không kém củ ráy, ở ngoài đồng. Tất cả bỗng dưng trơ trụi, rồi biến hết. Bởi rau cỏ là thứ lành bụng.

Nhà tôi còn có cơm ngày hai bữa, mỗi bữa một lon sữa bò hai lạng rưỡi gạo, cho trộn với một rổ rau má to, xóc đều, rồi chia ra bốn cái bát lùm lùm, ai nấy lào xào ăn, chỉ một lúc sau lại đói meo. Một loại thức ăn khác là cám và khô dầu. Cám là thứ cho lợn, bây giờ làm thành bánh cho người. Cám được xem là bùi bùi, thơm thơm và nhất là no lâu. Ăn một cái bánh cám, uống một bát nước thì cứ là lưng lửng cả ngày.

Cũng như cám, khô dầu là bã của các loại hạt béo như lạc, đỗ sau khi đã ép hết nước dầu. Khô dầu đóng thành bánh bán ở chợ để chăn nuôi gia súc, bây giờ người tranh nhau mua để thay cơm. Khô dầu ăn nhiều tức bụng, ăn ngày này qua ngày khác có thể sưng bủng ra mà chết. Không phải chết đói mà là chết… no. Tôi lại nhớ Một bữa no của Nam Cao.

Tôi đã thấy bao người đói đi lại quanh quẩn, vùng này qua vùng khác để tìm cái ăn. Đồng ruộng bạc phếch, không một màu xanh. Vườn tược hoang phế, không còn cây cối. Làng mạc hết cả tiếng chó sủa, tiếng gà gáy. Những người chết thì đã được bó vào chiếu đưa ra đồng. Cho đến lúc chiếu cũng không còn để mà bó. Những người sống thì tha thẩn trong nhà ngoài ngõ, hoặc vất vưởng trên đường, đi đứng liêu xiêu, dáng hình lểu đểu… mới thấy khủng khiếp đến thế nào cái đói của cả làng, cả nước.

Bây giờ nghĩ lại chuyện đời thấy sao dân ta khổ quá. Đọc truyện Một làng chết của Thanh Tịnh (trong tập truyện Quê mẹ) và Quái dị của Nam Cao ta hiểu cái chết do dịch tễ gây ra cho một làng. Dịch tễ như đậu mùa, dịch hạch, dịch tả, kiết lỵ… khiến cả “một làng chết”, ít còn ai sống sót, không còn người đi chôn.

Đọc Nghệ thuật làm no… của Ngô Tất Tố ta biết người nông dân quê ông đã có cách ăn đất sét để đánh lừa dạ dày khi cả một vùng đồng bãi phía bắc sông Hồng bị nhận chìm trong lũ lụt – một thứ lũ lụt ngâm rất lâu khiến cây cỏ khó mà sống sót…

Còn cái đói và chết năm Ất Dậu là đói và chết trên cả một địa bàn rộng lớn gồm cả trung du và đồng bằng Bắc bộ, lan vào cả một nửa miền Trung, trong đó có quê tôi. Cái chết của 2 triệu người do hậu quả của biết bao chính sách thâm hiểm và tội ác của Nhật – Pháp nhằm dồn cả một dân tộc vào thảm họa diệt chủng.

Hai triệu người, tức là ngót 1/10 dân số VN lúc ấy; và có thể còn chết thêm nữa nếu không có khẩu hiệu phá kho thóc do Việt Minh đưa ra – vậy là thóc vẫn còn ở các kho; rồi tổng khởi nghĩa tháng tám, cả dân tộc từ Bắc đến Nam rùng rùng chuyển động trong cả một rừng cờ đỏ sao vàng. Một nạn đói khủng khiếp, và tiếp đó, một cuộc đổi đời vĩ đại của dân tộc – đó là ấn tượng và ký ức Ất Dậu 1945 mà một đứa trẻ lên bảy như tôi đã được chứng kiến và trải nghiệm để in sâu vào bộ nhớ cho đến suốt đời.

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được khai sinh giữa những ngày tháng thương tâm ấy của năm Ất Dậu. Chỉ một ngày sau khi ra mắt toàn thể quốc dân, ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, vấn đề cứu đói đã được đưa ra: “Nhân dân ta đang đói… Những người thoát chết đói, nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống”.

Và nhà nước non trẻ đã tìm ra giải pháp…

GS PHONG LÊ (Theo Tuoi Tre)

Nạn đói năm 1945 (Kỳ 4): Chặng cuối của cuộc đọa đày

 

Những người chết đói ở trại Giáp Bát được cải táng về nghĩa trang Hợp Thiện (Hà Nội) – Ảnh: Võ An Ninh

Đường Giải Phóng, yết hầu giao thông nối Hà Nội với các tỉnh phía Nam, vươn mình qua cây cầu vượt với hàng vạn chuyến xe. Phố xá sầm uất quay cuồng với nhịp sống đô thị, ngập tràn hàng hóa và tiền bạc.

Nơi đóng cửa trần gian

Dưới chân cầu vượt là một ống cống lớn bắc qua sông Sét, chảy cắt ngang đường. Sau ống cống đó là một ngã ba có con phố rẽ tay phải dẫn đến những khu nhà đang hối hả xây dựng. Đó là những khu dân cư, các công ty và kho hàng. Ít ai biết 60 năm trước đây là điểm tụ tập đông nhất những sinh linh trước giờ chết đói: trại tế bần.

Ông Đặng Văn Cự, người dân gốc ở làng Tám (Giáp Bát), nay 87 tuổi, kể lại: thời đó làng Tám là ngoại ô, thuộc tổng Thịnh Liệt, Thanh Trì. Khu bến xe, ga tàu, bệnh viện Bạch Mai bây giờ là cánh đồng mênh mông với con sông Sét chảy vắt ngang. Từ Hà Nội đi qua cống Phố Hàn (nay là cống sông Sét nằm trên đường Giải Phóng) khoảng 20m có khu gia binh rộng 25 mẫu.

Theo Báo Bình Minh ra ngày 12-4-1945, những người VN hảo tâm khi thành lập đoàn khất thực để cứu trợ đồng bào đã chọn khu gia binh làm trại tế bần. Bắt đầu từ ngày 9-4, có 2.000 người ăn xin đã được đưa xuống đó, được phát cháo và nghỉ ngơi. Sau đó, những người ốm đau, hấp hối cũng được đưa về trại bằng xe bò.

Khi người đói chưa nhiều, trại còn có ngày hai bữa phát chẩn. Nhưng chỉ sau vài tuần số người tự tìm đến đã đông hàng vạn. Lương thực dù có nhiều đến mấy cũng không đủ cho mỗi người một bát cháo/ngày.

Ông Nguyễn Văn Điền ở Giáp Bát kể: mọi ngả đường chết đói của thành phố đều dồn về đây, từng đoàn từng đoàn những hình nhân tưởng như bất tận. Họ ngồi chật kín trại, kín cổng trại, kín cả đường vào trại và vật vờ, xiêu vẹo trên cống Phố Hàn, gặp ai cũng chìa tay xin ăn. Từ đây trại Giáp Bát trở thành nơi chứa người chết đói.

Báo Tin Mới số ra ngày 29-4-1945 viết: “Tấm bảng treo trước cổng trại ghi: ngày 26-4: buổi sáng số người còn lại 3.020 – số người chết 16. Buổi chiều, số người mới vào 2.000, số người chết 18”. Ông Điền kể: đó là số người trong trại, còn những người chờ chực bên ngoài thì nhiều vô kể và họ chết bất cứ lúc nào. Ông nhớ mãi hình ảnh một cụ già tuy đã đói khổ nhiều ngày nhưng nhìn rất quắc thước, đạo mạo.

Cụ ngồi trên cống Phố Hàn giống mọi người. Nhưng điều rất đặc biệt là cụ không xin ai một câu nào. Ai cho thì nhận. Ánh mắt cụ rất buồn, long lanh chứ không vàng nhợt vô hồn. Cụ ngồi đó mấy ngày rồi không ai thấy nữa. Người  trong và ngoài trại chết ngày một nhiều. Khẩu phần lương thực phân phát cho người đói thành muối bỏ biển và tạo nên những cuộc tranh giành thảm khốc. Nhưng rồi hàng vạn sinh linh ấy cũng “gặp nhau” trong những cuộc mai táng đau thương…

Những hố chôn tập thể

Suốt 60 năm sau, bà Chén (Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình) vẫn sống trên mảnh đất quê nhà Tây Lương. Bao dâu bể đổi dời, tâm khảm không ngừng muốn xóa nhòa quá khứ đau thương, khiến nhiều câu chuyện, nhiều dấu tích của nạn đói đã không còn lưu giữ trong bà. Nhưng bà vẫn biết rằng dưới ba thước đất, trong lòng đất quê hương, những ánh mắt trẻ, những tiếng khóc già cùng sự quằn quại của những linh hồn đói khát vẫn còn đó.

Còn đó trong những nấm mồ chôn vùi hàng chục, hàng trăm sinh mạng không hương khói, không mộ chí, không gỗ ván – ở quê hương bà đó là gò Ông Cảm, gò Lâu nằm giữa cánh đồng thôn Hiên bát ngát cánh cò…

Bà nhớ khi người chết đói quá nhiều, trai đinh, lính tuần khuân xác người trong những manh chiếu, mảnh vó buộc túm hai đầu, quăng xuống những cái hố to như cái ao rồi lấp. Hôm nay lấp hố này, mai lại lấp hố khác. Khi không còn chiếu, còn vó, còn bao bố và không còn cả sức người thì họ lấy dây thừng, dây thép buộc vào cổ, vào tay, chân những thây người khô khẳng đó, cho trâu, bò kéo lê theo đường ruộng hoặc trên bùn ướt rồi quăng xuống hố.

Trong tài liệu của Viện Sử học, rất nhiều địa phương như Hải Phòng, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định… đã đặt tên cho những hố chôn tập thể như thế thành cồn Ma,  mả Quán, mả Đói, gò Ma… Tuy nhiên nhắc đến hố chôn tập thể thì khủng khiếp nhất vẫn là ở Hà Nội.

Ông Nguyễn Ngọc Liên (khu tập thể Kim Liên) kể: ngày ngày sếp đội mặc quần soóc, chạy ra phố huýt một tiếng, đám đông khất thực liền chạy ùa lại. Sếp chỉ tay vào chiếc xe kéo thùng gỗ hai bánh, nói vài câu rồi chia hai người một xe kéo rong ruổi suốt từ phố Hàm Long đến chợ Mơ, rồi dọc tuyến Hàng Đẫy, Tràng Tiền… về gần cầu Giấy đi nhặt xác người.

Mới đầu người ta còn bọc chiếu, sau thì chỉ túm đầu, túm chân quẳng lên thùng xe. Trẻ con, người già, đàn bà, đàn ông, đầu, tay chân… lủng lẳng hoặc kéo lê trên đất. Ngày nào cũng vài chục xe như vậy rong ruổi. Mấy người kéo xe kể: nhiều hôm họ quăng xác chết lên xe, trong xe có tiếng thều thào… Có anh xe dừng lại bới đống xác thì không thấy ai kêu nữa. Có anh xe thì nói vọng vào: “Thôi đằng nào cũng ra nghĩa địa thì đi đi kẻo mai không ai chôn”.

Mọi chuyến xe đều đổ về hai nghĩa trang Hợp Thiện và Phúc Thiện nằm ở cánh đồng ngoại ô hai đầu nam – bắc thành phố. Nay Hợp Thiện thuộc quận Hai Bà Trưng, bám bên sông Kim Ngưu. Phúc Thiện nằm trong công viên Thủ Lệ. Tại nghĩa trang người ta đào những cái hố sâu 3-4m, dài rộng hàng chục mét, quẳng xác chết xuống đó rồi rắc vôi bột lên trên và lấp. Từ khi xuất hiện trại tế bần Giáp Bát với lượng người chết 30-50 người mỗi ngày thì cánh đồng xung quanh cũng trở thành những hố chôn người.

Ông Điền kể rằng sau nạn đói, cánh đồng Giáp Bát lúa năm ấy không trồng nhưng từ những gốc rạ vẫn trổ đòng xanh ngăn ngắt. Người ta tranh nhau đi gặt. Gặt xong cày bừa, tung lên bao nhiêu đầu lâu, chân tay. Còn ở cánh đồng thôn Hiên, những đêm đông rét buốt hoặc những buổi trăng rằm sương lạnh trước vụ mùa, bà Chén vẫn như nghe thấy ngoài gò Ông Cảm xôn xao tiếng người như họp chợ. Phiên chợ của những hồn ma đói khát…

Khi chúng ta no ấm

Bia tưởng niệm nạn nhân chết đói tại đường Kim Ngưu   (Hà Nội) – Ảnh: Q.T.

Cây số 3 trên đường từ Thái Bình đi Hà Nội nay là một cụm công nghiệp, thương mại sầm uất của thành phố Thái Bình với những hàng quán ăn uống đặc sản đủ món Tây, Tàu. Nếu không được nghe những câu chuyện của 60 năm trước thì không ai nghĩ từng có hàng vạn con người đói rách quằn quại tụ tập ở đây mà hy vọng một con đường sống.

Bảo tàng tỉnh Thái Bình đang hoàn thành giai đoạn cuối những hạng mục xây dựng tân thời. Thật khang trang, quy mô và cũng khá phong phú các hiện vật trưng bày. Thế nhưng rất tiếc, về nạn đói đau thương nhất lịch sử dân tộc và lịch sử Thái Bình thì nơi này chỉ trưng bày 5-6 tấm ảnh của nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh.

Trở về Hà Nội, tìm đến nơi từng là nghĩa trang Phúc Thiện, nấm mồ tập thể chôn vùi hàng vạn con người không gỗ ván, không hương khói, mộ chí, tôi lạc vào công viên Thủ Lệ, được nhìn thấy những con người đang hạnh phúc nô cười trong tiết thanh xuân. Đi tìm nghĩa trang Hợp Thiện tôi phải mất mấy ngày dò hỏi mới đoán được khu vực cần  đến.

Đó là khu tập thể Nhà máy dệt 8-3, quận Hai Bà Trưng. Nghĩa trang đã bị xóa dấu tích hoàn toàn. Những căn nhà cao tầng thi nhau mọc lên. Người bán nước nói: thỉnh thoảng người ta làm đường, xây nhà cũng gặp hàng núi đầu lâu, chân tay người chất chồng trong lòng đất. Họ thắp nén hương rồi gạt xương ra và tiếp tục đào…

Theo lời chỉ dẫn của những người già, tôi tìm vào một hẻm nhỏ trên đường Kim Ngưu, rẽ vào ngách 559 với những dãy nhà cao vút nhưng chỉ chừa đủ chỗ cho một chiếc xe luồn lách. Bên phải cái ngách này là đường cụt. Nhìn thật kỹ mới thấy cổng vào rộng chừng 1,5m của khu tưởng niệm những nạn nhân 1945. Khu tưởng niệm lọt thỏm trong những bức tường nhà kiên cố.

Công trình lớn nhất ở đây là tấm bia đá khắc bài tế của giáo sư Vũ Khiêu cho những vong hồn xấu số. Kế bên là bức tường đắp dòng chữ “Nơi an giấc ngàn năm của đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói 1944 – 1945” và vài bệ đặt bát hương. Coi giữ nơi này là một người đàn bà luống tuổi, không ngớt mồm quảng cáo về chuyện âm hồn, linh ứng để mời khách đặt lễ…

Có lẽ công việc công phu nhất của người còn sống khi ghi lại dấu ấn này chính là những tấm ảnh của nghệ sĩ Võ An Ninh và công trình khoa học đầy đặn của giáo sư Văn Tạo và các cộng sự. Tuy vậy công trình nghiên cứu trên mới chỉ in vài trăm cuốn một lần vào năm 1995.

Nước ta nay đã là một trong những quốc gia xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới. Xóm Trại, xã Tây Lương – nơi đã chết gần hết số dân sở tại – nay cũng đã là một làng quê giàu có, thanh bình. Bữa cơm của gia đình ông Tô Nuôi hôm nay dù đã hết dư vị ngày tết nhưng vẫn thịnh soạn, thơm ngon. Lịch sử dân tộc cũng như cuộc sống mỗi người đã sang trang mới tốt lành, sáng đẹp. Nhưng như giáo sư Văn Tạo nói: chúng ta không được quyền quên kỷ niệm đau thương và rùng rợn nhất đó của lịch sử!

Không quên được, không cách gì tan biến được nỗi đau ấy trong ký ức của người từng đói cơn đói Ất Dậu. GS Phong Lê – nguyên viện trưởng Viện Văn học, năm ấy 7 tuổi, nhưng nỗi khổ nhục của cả làng xã đã mãi mãi khắc dấu vào tâm trí ông. Ông gọi đó là “tri thức của tôi trong năm đói 1945” – một “tri thức” đau đớn, chỉ dạy con người cái cách phải ăn những gì để sống.

QUANG THIỆN (Bao Tuoi Tre)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 35 other followers